Chi Hội Khoa Học Lịch Sử Trịnh Hoài Đức > Giới thiệu > TRỊNH HOÀI ĐỨC VỚI GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ

TRỊNH HOÀI ĐỨC VỚI GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ

Trường Cao đẳng Sư phạm TWTP.HCM

Sách địa chí thời Nguyễn

Dưới thời nhà Nguyễn (1802-1945), đặc biệt giai đoạn 4 đời vua đầu là Gia Long (1802-1820), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883), các ngành khoa học xã hội và nhân văn phát triển rất mạnh mẽ so với các triều đại trước. Ở  những thập niên cuối thế  kỷ  XVIII và đầu thế  kỷ  XIX, cùng với việc hoàn thành công cuộc thống nhất quốc gia, việc biên soạn địa phương chí được đẩy mạnh, với sự đầu tư rất lớn của nhà nước. Nhà Nguyễn đã ý thức rất rõ vai trò của sách địa chí, xem đây là công cụ  quản lý toàn diện về  địa phương trên các mặt địa lý, nhân văn, chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa.

Đối với ngành địa dư học, bên cạnh các cơ quan chuyên trách như Quốc sử  quán, triều Nguyễn còn giao trách nhiệm hoặc khuyến khích các cá nhân có năng lực tham gia biên soạn địa chí. Một loạt các tác phẩm địa dư đồ sộ đã ra đời như: Quốc sử quán với Đại Nam thống chí (viết thời Thiệu Trị),  Đại Nam nhất thống chí  (31 quyển, viết thời Tự  Đức, bộ  quốc chí đồ  sộ  và đầy đủ  nhất), Đồng Khánh địa dư chí  (27 quyển),  Đại Nam nhất thống dư đồ; Hoàng Hữu Xứng với  Đại Nam quốc cương giới vựng biên  (viết năm 1886); Lê Quang Định với  Hoàng Việt nhất thống chí  (10 quyển, viết năm 1806); Phan Huy Chú với  Lịch triều hiến chương loại chí  (phần Dư địa chí); Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ với Đại Việt địa dư toàn biên (viết thời Tự Đức, in năm 1900)…

Ngoài những bộ sách địa chí mang tính toàn quốc, dưới thời Nguyễn, còn xuất hiện nhiều những địa phương chí:  Bắc Thành địa dư  chí  của Lê Chất và Nguyễn Văn Lý,  Gia Định thành thông chí  của Trịnh Hoài Đức, Hải Dương địa dư, Hải Đông chí lược của Ngô Thời Nhậm; Bắc Ninh tỉnh chí, Hưng Yên nhất thống chí; Hưng Hóa chí lược, Sơn Tây tỉnh chí, Nam Định tỉnh địa dư chí, Hoan Châu phong thổ chí; Nghệ An ký; Thanh Hóa tỉnh chí; Quảng Nam tỉnh chí lược, Cam Lộ phủ chí…

Nhà văn hóa Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã để  lại cho đời những trước tác quan trọng như Bắc sứ  thi tập, Cấn Trai thi tập  (3 tập), Gia Định tam gia thi tập  (cùng với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh),

  1. Lịch đại kỷ  nguyên, Khang tế  lục  và Gia Định thành thông chí. Trong đó  Gia Định thành thông chí là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, một công trình địa chí sáng giá về  vùng đất Nam Bộ xưa, được giới học thuật đánh giá rất cao. Triều Nguyễn đã đánh giá cao về  ông:”Đức là người cẩn thận, phong độ, trầm tĩnh, nghiêm chỉnh, học vấn rộng, nghị luận thường giữ đại thể, đức nghiệp văn chương, đời phần tôn trọng”.
  2.  Thời điểm ra đời của Gia Định thành thông chí Trịnh Hoài Đức,  Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh, là ba gương mặt sáng giá nhất trong tao đàn  Bình Dương thi xã, nhóm Sơn Hội, cùng thời với thi đàn Chiêu Anh Các  ở  Hà Tiên. Họ  đều xuất thân từ  đất Sài Gòn cũ,  đều là học trò của Sùng Đức xử  sĩ  Võ Trường Toản,  thi đậu một lần, làm quan cùng triều. Trịnh Hoài Đức nhiều lần đi sứ  Trung Quốc, làm đến Thượng thư Bộ  Lại, kiêm Bộ  Hình và Phó tổng tài Quốc sử quán.
  3. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, tập 2, Bản dị ch Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr.192. Về thời điểm biên soạn của sách Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức cho biết, vào tháng 6 năm Gia Long thứ 4 (1805), vua sai ông “kê khảo sự tích, cương vực, thổ sản trong địa hạt, và đo xem đường sá xa gần, núi sông chỗ  nào hiểm yếu hay bình thản, vẽ  vào bản đồ, ghi chép biên  bản theo từng khoản, cước chú rõ ràng, dâng lên để  làm hình lục”. Trên cơ sở  đó, ông đã viết tác phẩm danh tiếng này.
  4. Bộ  sách được ông dâng lên vua Minh Mạng vào tháng 5 năm Canh Thìn (1820) khi có chiếu chỉ của triều đình về việc tìm kiếm và thu nạp sách cũ, cùng với sách Minh bột di ngư văn thảo. Đến nay, thời điểm biên soạn cuốn sách này vẫn còn những ý kiến khác nhau. Aubaret thì cho rằng sách này được biên soạn trong thời kỳ  Minh Mạng (1820-1840).
  5. Cadière, Pelliot tán thành quan điểm này. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đề  nghị  theo các ghi chép gần đây, cuốn sách này có ghi các sự  kiện của năm Gia Long thứ  17 (1818) và Trịnh Hoài Đức mất năm 1825, nên thời gian biên soạn cuốn sách này phải giữa các năm 1820 và 1825.Nhưng học giả  Trần Kinh Hòa lại cho rằng ý kiến này rất mơ hồ. Và ông viện dẫn sách Đại Nam thực lục chính biên  nói rằng Nguyễn Phúc Hiệu có công bố  một nghị  định vào tháng 5 năm Minh Mạng thứ 1 (1820) về việc sưu tập các tác phẩm cổ và “Trịnh Hoài Đức đã công bố bản Gia Định thành thông chí gồm ba tập”. Rồi ông kết luận:”Sự trích dẫn nguồn gốc lịch sử này chứng tỏ rằng Gia Định thông chí đã được biên soạn vào năm Minh Mạng thứ nhất và cuốn sách này được viết theo lệnh của triều đình”.
  6. Sử học Dương Bảo Vân (Yang Baoyun, Viện Nghiên cứu Á  –  Phi, Trường Đại học Bắc Kinh) không đồng ý với kết luận này. Ông đưa ra chứng cứ, cho là Trịnh Hoài Đức đáng lẽ  ghi chú trong tác phẩm của mình là vào năm 1818, nhưng lại ghi ngày thứ 15, tháng 3, năm Minh Mạng thứ nhất (1820). Thứ  nữa, là Trịnh Hoài Đức  đã cai trị  trong thời gian tạm quyền Gia Định đến tháng 5 của năm đó và ông chỉ được phong Thượng thư Bộ Lại ở tháng tiếp sau. Nguyễn Phúc Hiệu công bố nghị định của mình vào tháng 5 của năm đó. Như vậy, Trịnh Hoài Đức khó lòng mà biên soạn được một cuốn sách với nội dung rất súc tích chỉ trong vòng vài tháng. Theo ghi chú của  Đại Nam thực lục chính biên, sau nghị  định về  việc sưu tập các tác phẩm cổ được công bố, “nhiều người  ở  trong và ngoài triều đình xin dâng các tác phẩm của mình. Thượng thư Trịnh Hoài Đức đã dâng tác phẩm Gia Định thông chí gồm 3 tập”.
  7. Dương Bảo Vân cho rằng sự  trích dẫn đó không chính xác, nếu như Trịnh Hoài Đức công bố  tác phẩm của mình trong cùng năm với nghị định. Ông cũng lưu ý là Thực lục bao giờ cũng được biên soạn sau khi vua  mất. Ví dụ  như, phần hai của  Đại Nam thực lục chính biên  bao gồm triều đại của Nguyễn Phúc Hiệu, được hoàn thành vào năm 1861, tức sau khi vua mất 20 năm. Và Thực lục là bảng tổng kết
  8. Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định,  Gia Định tam gia, Hoài Anh biên d ịch và chú giải,Huỳnh Văn Tới, Bùi Quang Huy hiệu đính, giới thiệu, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2003, tr.41.
  9. Aubaret, Historie et description  de la Basse-  Cochinchine, Paris,  1863.  Chuyển dẫn theo Dương Bảo Vận, Một vài nghiên cứu về sách Gia Định thành thông chí, Tạp chí Xưa và Nay, số 53B, 1998, tr.18.
  10. Trần Kinh Hòa, Ghi chép về  Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức  –  Đất Nam kỳ  và  Hoa kiều  ở đầu thế kỷ 19, Nam Dương học báo, Singagope, tập 12, số 2. Chuyển dẫn theo Dương Bảo Vận, Bđd, tr.18.
  11. Đại Nam thực lục chính biên, phần hai, tập 3. Chuyển dẫn theo Dương Bảo Vận, Bđd, tr.20.  triều đại và các nhà biên soạn chỉ tiến hành làm và tổng hợp các kết quả thu được sau một thời gian dài công bố các nghị định. Một chứng cứ  nữa được Dương Bảo Vân đưa ra, cho là khả  năng biên soạn của Gia Định thông chí  không vượt quá năm Minh Mạng thứ  3 (1822). Trong phần chiêm tinh học (Tinh dã chí-  Nguyễn Thanh Lợi chú) của tác phẩm này có câu:”An Quảng sản xuất ngọc trai”. Theo Đại Nam quốc cương giớihội biên, tỉnh này có tên là An Quảng Trấn năm 1802 và tên này đổi thành Quảng An Trấn năm 1822.
  12. Cuối cùng, ông kết luận một cách thận trọng, việc biên soạn Gia Định thành thông chí được tiếnhành vào khoảng giữa giữa các năm 1820 đến 1822.Cao Tự Thanh cho là Gia Định thành thông chí hoàn thành vào năm 1821.
  13. Nguyễn Minh Tường đoán định Gia Định thành thông chí có thể được viết trong khoảng thời gian Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn Gia Định thành, tức vào các năm 1805-1808, 1816, dưới triều vua Gia Long.
  14. Đây là ý kiến hợp lý hơn cả. Nội dung sách Gia Định thành thông chí Gia Định thành thông chí  là bộ  sách địa lý học lịch sử  được Trịnh Hoài Đức biên soạn khá công phu, theo thể loại địa chí. Tứ khố toàn thư đời vua Càn Long, nhà Thanh (Trung Quốc) xếp loại sách này vào Sử bộ (Kinh – Sử – Tử – Tập).

Sách ghi chép đầy đủ và cụ thể việc hình thành các trấn, núi sông, cương vực, thành trì, khí hậu, sản vật, nhân vật, phong tục tập quán, cách làm ăn, sinh hoạt của nhân dân cũng như lịch sử  hình thành vùng đất Gia Định (quá trình khai thác  ở  vùng đất cực nam của Tổ  quốc, việc bang giao với hai nước láng giềng Cao Miên và Xiêm La, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và việc Nguyễn Ánh khôi phục được địa vị thống trị  của các chúa Nguyễn). Các nhà nghiên cứu địa lý thế  giới đánh giá cao tác phẩm này, xemnhư một nguồn tài liệu quý giá bao gồm các vấn đề lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội ở vùng đất này.Gia Định thành thông chí ghi chép về 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và HàTiên thuộc Gia Định thành dưới triều vua Gia Long (1802-1819). Sách gồm 6 quyển, với trình tự  nội dung sau:

Quyển 1:  Tinh dã chí (Khu vực các ngôi sao), 6 tờ.

Tác giả  căn cứ  vào vào thiên văn chí và địa lý chí của các sách chính sử  Trung Quốc như  Hán

thư, Đường thư nhận định vị trí các đất Ngô Việt hay Dương Châu đối với các vì sao để suy luận về vị trí

của đất Gia Định, phần này không có giá trị thiết thực.

Quyển 2: Sơn xuyên chí (Chép về núi sông), 90 tờ.

Trịnh Hoài Đức phân biệt theo từng trấn của đất Gia Định mà mô tả  các núi sông. Lúc này Gia

Định chia làm 5 trấn: Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên. Đến năm Minh Mạng thứ 7 Đại Nam quốc cương giới hội biên, tập 4, “Tỉnh Quảng An”. Chuyển dẫn theo Dương Bảo Vận, Bđd, tr.18-19. 8 Cao Tự Thanh, Nhìn lại tủ sách địa phương chí Nam bộ, Tạp chí Xưa và Nay, số 232, tháng 3, 2005, tr.3 9 Nguyễn Minh Tường,  Trịnh Hoài Đức và tác phẩm “Gia Định thành thông chí”, Tạp chí Xưa và Nay, số chuyên đề tháng 4, 2002, tr.9.13 (1832), trấn Vĩnh Thanh mới chia làm 2 tỉnh là Vĩnh Long và An Giang. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn trước kia chưa nói đến núi sông của đất Gia Định. Gia Định thành thông chí là cuốn sách đầu tiên mô tả kỹ càng sông núi vùng này, các sách địa chí được biên soạn về sau như Đại Nam nhất thống chí đời vua Tự Đức cũng không mô tả kỹ càng hơn.

Quyển 3: Cương vực chí (Chép về bờ cõi), 85 tờ. Phần đầu chép lịch sử  khai thác đất Gia Định của chúa Nguyễn, tác giả  thường dẫn sách  Phủ biên tạp lục  của Lê Quý Đôn và sách Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Bảng Trung, có những tài liệu hay về quan hệ ngoại giao giữa các chúa Nguyễn với các vua nước Cao Miên.

Phần thứ  hai chép về  cương vực chung của đất Gia Định và cương vực từng trấn với vị  trí, giới hạn, hình thế  của trấn và danh sách các phủ, huyện, tổng, xã, thôn, lân (có cả  vị  trí và giới hạn mỗi huyện và mỗi tổng). Đây là tài liệu mô tả kỹ càng nhất về các khu vực hành chính của đất Gia Định thời Gia Long. Về  các trấn Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên, tác giả  có chép thêm những sự  kiện liên quan đến sự khai thác các trấn đó. Về trấn Hà Tiên có nhiều tài liệu liên quan đến Cao Miên và Xiêm La.

Quyển 4: Phong tục chí (Chép về phong tục, tập quán), 18 tờ. Sách ghi chép về  phong tục, trang phục, nhà cửa, tín ngưỡng, lễ tết, hội hè…của Gia Định, nét văn hóa riêng của mỗi trấn. Phần này cung cấp những tài liệu quý về văn hóa xưa của đất Gia Định.

Quyển 5: Sản vật chí (Chép về sản vật), 25 tờ. Phần đầu nói về  nông sản, tình hình ruộng đất của cả  trấn, của một số  huyện, tổng, thời gian cấy gặt ở mỗi nơi, các giống lúa và các giống hoa màu. Phần thứ hai tác giả nêu lên các sản vật quan trọng của các địa phương, từ lâm sản, thổ sản đếnthủy sản. Quyển này cho chúng ta nhiều tài liệu về tài nguyên của đất Gia Định.

Quyển 6: Thành trì chí (Chép về thành quách), 45 tờ. Khoảng cuối thế kỷ XIX, Quốc sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức cho biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí, trong đó có 6 quyển viết về Nam Kỳ lục tỉnh (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Bộ  quốc chí này chia theo đơn vị  tỉnh với kết cấu thống nhất gồm 20 mục:  Phân dã, Hình thế, Khí hậu, Phong tục, Thành trì, Học hiệu, Hộ  khẩu, Điền phú, Sơn Xuyên, Cổ  tích, Quan tấn, Dịch trạm, Thị điếm, Tân lương, Từ miếu, Tự quán, Nhân vật, Tiết phụ, Tăng thích, Thổ sản.

Về cơ bản, đây là sự chi tiết hóa, cụ thể hóa từ kết cấu của sách Gia Định thành thông chí và có bổ sung những nội dung mới cho phù hợp với yêu cầu quản lý đất nước dưới triều Nguyễn. Cách ghi chép của Gia Định thành thông chí Không những cung cấp những hiểu biết về  vị  trí, giới hạn, quy mô của  các thành trấn lỵ  và huyện lỵ mà còn cho biết vị trí, quy mô, tình hình các lũy, đồn, chùa, cầu, chợ búa, phố xá như phố Sài Gòn, phố Nông Nại (Biên Hòa). Đặc biệt có thể biết được vị trí và quy mô của thành “Bát giác hoa sen” (thành Bát Quái) do Nguyễn Ánh xây năm 1788 và Minh Mạng cho phá sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (1835).

Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức không những ghi chép cẩn thận, cụ thể từng tên sông, tên núi, tên vùng đất…mà còn giải thích cặn kẽ  ý nghĩa của các địa danh đó. Nhiều tên đất, tên làng xã được ông chủ  ý ghi lại bằng ngôn ngữ  địa phương có nguồn gốc Miên như Sài Côn (Sài Gòn), Nông Nại (Biên Hòa), Rí Rang (Phan Rí-Phan Rang)…trước khi chúng được Hán hóa hoặc thay bằng những “mỹ  tự” dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840). Điều này giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu địa danh học, địa lý học lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa…

So với sách  Đại Nam nhất thống chí  thì  Gia Định thành thông chí  của Trịnh Hoài Đức ghi chép các địa danh xưa khá chính xác. Làm quan cai trị lâu năm ở đây, lại đi nhiều, nên Trịnh Hoài Đức rất am tường vùng đất Gia Định. Ông còn cho ta biết nhiều chi tiết lịch sử  cụ  thể  về  việc tổ  chức các đơn vị hành chính ở Nam Bộ xưa. Đọc Gia Định thành thông chí, chúng ta sẽ  có thêm nhiều hiểu biết lý thú và bổ ích về  đất nước và con người Nam Bộ xưa để mà thêm yêu mến mảnh đất này.Khi nói về phong tục của đất Sài Gòn xưa, Trịnh Hoài Đức đã vẽ nên một bức tranh sống động về cảnh sinh hoạt của một xứ  đô hội, nơi tiếp nhận, dung nạp nhiều nền văn hóa khác nhau, cái mà ngày nay chúng ta vẫn thường nói là “mở  cửa” của một nền kinh tế  hàng hóa cách đây hơn hai trăm năm: “Kẻ sĩ ở trấn Phiên An trọng danh tiết, tục chuộng xa hoa. Văn vật, nhà cửa, đồ dùng phần nhiều giống phong tục Trung Quốc. Tại huyện Bình Dương  và Tân Long, dân cư trù mật, phố  chợ  liền lạc, nhà cột nhà ngói liên tiếp nhau. Có nhiều tiếng nói như Phước Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam và các thứ  tiếng phương Tây, Xiêm La. Tàu biển đến buôn bán qua lại, cột buồm, là một nơi đô hội lớn  ở  Gia Định, cả  nước không đâu sánh bằng. Quen nghề  buôn bán, chợ  búa nhiều du đãng, có người  ở  ghe thuyền gọi là dân giang hồ, có người từ xa tới tụ họp gọi là dân  tứ chiếng. Chợ Bình An trong mười nhà thì hết chín nhà làm nghề nông, chỉ có một nhà buôn bán, nên tập tục chất phác như thời xưa”. Cách ghi chép của Trịnh Hoài Đức khá khoa học khi ông luôn chú trọng mô tả tỉ mỉ, cẩn thẩn về các cảnh quan, lai lịch hình thành, quá trình phát triển, vận động của sự  vật. Văn ông dễ  đọc, không khô khan, tỉnh thoảng vẫn xen vào những câu chuyện kể, những giai thoại dân gian hấp dẫn; và bàng bạc một chất thơ nhẹ  nhàng, thanh thoát qua những nét chấm phá phóng khoáng:”Suối trong  chảy quanh chân gò, chiều mát các cô gái chống thuyền hái sen. Gặp lúc thời tiết đẹp, văn nhân thi sĩ mang bầu rượu theo từng bậc đi lên đầu gò ngâm vịnh dưới hoa, câu thơ phảng phất mùi hương”(về  gò Cây Mai).

Từ khi ra đời, Gia Định thành thông chí được người đương thời và đời sau đánh giá cao và tin cậy vào sử  liệu của nó. Sử  thần triều Nguyễn dựa vào bộ  sách này để  soạn các bộ  Đại Nam thực lục  (Tiền biên), Đại Nam liệt truyện (Tiền biên), Đại Nam nhất thống chí (phần Nam Kỳ lục tỉnh). Do vậy, đây đã là một tác phẩm địa lý học-  lịch sử  sáng giá trong kho tàng thư tịch cổ  nước ta và ông cũng là một trong những nhà biên khảo hàng đầu của ngành địa lý học Việt Nam. Đây là tài liệu rất quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử cũng như những vấn đề khác về quá khứ của Nam Bộ.

Tình hình văn bản của Gia Định thành thông chí Năm 1863, khi mới chân ướt chân ráo đến Nam Kỳ, thực dân Pháp đã cho Gabriel Aubaret dịch sách  Gia Định thành thông chí  ra tiếng Pháp theo lệnh của Bộ  trưởng Hải quân và thuộc địa Pháp Chasseloup Laubat để phục vụ mục đích xâm lược của bọn chúng. Sách do Nhà in Imprimerie Impériele Nguyễn Minh Tường, Bđd, tr.11. ấn hành ở Paris với nhan đề Histoire et description de la Basse Cochinchine (pays de Gia-Dinh) hay còn gọi là Gia Dinh thung chí. Sách dịch gồm 13 trang dẫn nhập và 359 trang nội dung, có cả bản đồ.

Aubaret đã không dịch đúng theo kết cấu của nguyên bản mà đảo lộn trật tự  các chương nhằm phục vụ  ý đồ  của người Pháp. Phần thứ  nhất gồm lịch sử  về  sự  khai thác và phong tục tập quán. Phần thứ hai gồm những chương mục về địa lý và về sản vật. Ông không dịch chương Thành trì chí, thay thế các địa danh hành chính của các trấn bằng một bảng phụ  lục ghi những khu vực hành chính  ở  đời Tự Đức.

Năm 1972, Nha Văn hóa Phủ  Quốc vụ  khanh đặc trách Văn hóa (Sài Gòn) đã xuất bản Gia  Định thành thông chí  trọn bộ  3 tập, có kèm chữ  Hán, do Tu Trai Nguyễn Tạo dịch; các duyệt giả  gồm: Nguyễn Đình Diệm, Bửu Cầm, Nguyễn Triệu. Bộ  sách này nằm trong Văn hóa tùng thư  số  49, 50, 51. Tập thượng (quyển I và II): 118 trang tiếng Việt, 155 trang chữ Hán. Tập trung (quyển III): 111 trang tiếng Việt, 184 trang chữ  Hán. Tập hạ  (quyển IV, V, VI): 130 trang tiếng Việt, 150 trang chữ  Hán. Trong sách có bài giới thiệu sự nghiệp và văn chương của Trịnh Hoài Đức do Tô Nam Nguyễn Đình Diệm soạn thuật (7 trang). Năm 1991, tại  Trịnh Châu  (Trung Quốc),  Nhà xuất bản sách cổ  Trung Châu  đã cho xuất bản một bộ  gồm ba quyển sách sử  của Việt Nam là  Gia Định thành thông chí,  Lĩnh Nam trích quái  và  Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị  gia phả, bằng chữ  giản thể, do Đái Khả  Lai biên dịch và Dương Bảo Quân hiệu chú.

Tháng 12-1998, nhân dịp kỷ  niệm 300 năm Sài Gòn  –  Gia Định  –  TP. Hồ  Chí Minh và 20 năm thành lập Chi nhánh Nhà xuất bản Giáo dục tại thành phố  Hồ  Chí Minh (1979-1999),  Gia Định thành thông chí được ấn hành, cũng in kèm chữ Hán với bản dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học, do Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tĩnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích. Nếu so sánh với bản dịch Nam Kỳ lục tỉnh dư địa chí thoát thai từ Gia Định thành thông chí của Thượng Tân Thị (1944), hoặc bản dịch của Nguyễn Tạo (1972) và bản dịch tiếng Pháp Gia Định thung chi của Aubaret (1863) thì bản dịch của Viện Sử học tốt hơn, tuy không phải không còn nhược điểm. Đây là bản dịch của Viện Sử  học được thực hiện từ  những năm 60 và trong hơn 30 năm qua được nhiều nhà nghiên cứu  ở  miền Bắc sử  dụng dưới dạng bản đánh máy lưu  ở  Thư viện Viện Sử  học. Trong lần chuẩn bị  bản thảo này, Viện Sử  học đã “đối chiếu với bản chữ  Hán, tiến hành hiệu chỉnh những chỗ thấy thật cần thiết, trên tinh thần tôn trọng văn phong, cách diễn đạt của dịch giả”.

Năm 2005, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai cho xuất bản Gia Định thành thông chí, do Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu, có in kèm văn bản chữ  Hán.

Bản dịch này đã kế  thừa được những thành tựu  ở  các bản dịch trước, đồng thời cũng hạn chế  bớt những khiếmkhuyết của các dịch giả đi trước. Đặc biệt, trong sách còn có thêm phần Phụ lục gồm: Các triều đại; Họ Bản dịch của Lý Việt Dũng, do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2006 có 247 trang chính văn, 109 trang phụ  l ục, 568 trang chữ Hán.

Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tĩnh dịch, Nxb Giáo dục,1998, Hà Nội, tr.12.

Lời tựa, tr. 6, trong l ần xuất bản của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1998.Năm 2006, Nxb Đồng Nai cho tái bản sách này. Mạc ở  Hà Tiên và 10 bài thơ vịnh, Loài vật, đồ  vật, đo lường; Giải nghĩa một số  từ ngữ; Từ vựng nhân danh; Từ vựng địa danh.

Trong bản dịch này, Lý Việt Dũng đã chỉ ra 6 dạng lỗi sai sót ở các bản dịch trước: dịch nhầm địa danh, dịch nhầm danh nhân, dịch nhầm tên sản vật địa phương, dịch nhầm ngữ  nghĩa Hán văn, chép thiếu hoặc sai nguyên văn, lỗi morasse.

Sau đây là một số lỗi mà Lý Việt Dũng đã phát hiện ra: địa danh Mỗi Suy, người địa phương gọi là  Mô Xoài, Trương Vĩnh Ký ghi là Mô Xoài, nhưng dịch thành  Mỗi Xoài. Địa danh  Ba Cụm  ở  Chợ  Đệm dịch thành  Ba Khóm. Sông  Lá Buông  đoạn chảy qua xã Phước Tân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Trịnh Hoài Đức ghi là Bối Diệp lại dịch là sông Lá Bôn. Địa danh Cái Vồn, nằm ở bờ bắc bến phà Cần Thơ dịch thành Cái Bồn. Hoặc Vàm Nao biến thành Vàm Giao, Láng Thé thành Lãng Đế, Cần Giuộc trở thành Cần Dọt…

Chưởng tượng  quân Nguyễn Đức Xuyên, người chỉ  huy tượng binh trong quân đội chúa Nguyễn bị biến thành Chưởng tướng quân Nguyễn Đức Xuyên. Nguyên văn ghi tên Nôm ông  luồng, là cách gọi cá sấu ăn thịt người của dân vùng Sốc Sãi Hạ (Bến Tre) thì bản dịch ghi là ông  Rồng. Cây  ô rô, một loại cây quen thuộc  ở  vùng ngập mặn bị  dịch thành ô lô.

Hà mễ dịch là tôm nỏn, người Quảng Đông phát âm là há mại, người Tiều Châu phát âm là hề bí, đúng ra phải là tôm khô. Can lệ ngư lại bị hiểu là cá lệ khô, nên khó ai biết được là món gì, mà chính là nước mắm. Điền ư hàm dịch là mắm cá ruộng, nên hiểu đúng là mắm cá đồng.

Nhận xét

Gia Định thành thông chí  của Trịnh Hoài Đức có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự  nghiệp trước thư lập ngôn của ông, là cuốn địa chí hàng đầu về vùng đất Nam Bộ xưa, một viên ngọc quý trong kho tàng sách địa chí của Việt Nam, có giá trị khảo cứu về nhiều mặt, cung cấp nhiều hiểu biết về vùng đất này, không chỉ về mặt nhân văn mà cả tự nhiên. Cuốn địa chí được xem là cuốn “asách cái”, “sách Mẹ”cho các công trình biên khảo về Nam Bộ sau này.

Xem thêm:

–  Lý Việt Dũng, Thảo Nguyên,  Đôi điều góp ý về  một bản dịch Gia Định thành thông chí, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 11, 1999.

– Lý Việt Dũng, Về bản dịch Gia Định thành thông chí của Viện Sử học, Tạp chí Xưa và Nay, số 64, 1999.

– Nguyễn Đình Tư,  Góp ý về  các địa danh trong sách “Gia Định thành thông chí”, Tạp chí Xưa và Nay, số 67B, 1999.

– Lý Việt Dũng,  Lạm bàn về  những điểm chưa đạt trong bản dịch Gia Định thành thông chí của Tổ  phiên dịch Viện Sử học, Nguy ệt san Giác ngộ, số 43, 44, 45, 47, 48, 50, 1999-2000. -Lý Việt Dũng,  Góp ý về  bản dịch tác phẩm “Gia Định  thành thông chí” của Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tĩnh, Nghiên cứu Huế, tập 4, 2002.

– Lý Việt Dũng,  Sản vật Nam Bộ  trong sách Gia Định thành thông chí, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4, 2002; số 1, 2003.