Chi Hội Khoa Học Lịch Sử Trịnh Hoài Đức > Giới thiệu > Trịnh Hoài Đức Dưới Góc Nhìn Lịch Sử

Trịnh Hoài Đức Dưới Góc Nhìn Lịch Sử

Các sử gia Việt Nam cũng như thế giới, khi nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ đều không thể không đề cập đến” Gia Định Thành Thông Chí”.
TRỊNH HOÀI ĐỨC
DƯỚI GÓC NHÌN LỊCH SỬ
Th.S Nguyễn Hồng Cúc
                                              Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức
          Các sử gia Việt Nam cũng như thế giới, khi nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ đều không thể không đề cập đến” Gia Định Thành Thông Chí”.
Khi Pháp chiếm Nam Kỳ, Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa Pháp Chasseloup Laubat đã cho Gabriel Aubaret dịch sách Gia Định thành thông chí ra tiếng Pháp. Sách do Nhà in Imprimerie Impériele ấn hành ở Paris với nhan đềHistoire et description de la Basse-Cochinchine. Sách dịch gồm 13 trang dẫn nhập và 359 trang nội dung, có cả bản đồ. Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của quyền sách mà tác giả của nó là Trịnh Hoài Đức.
          Mang danh là chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức, một chi hội Khoa học lịch sử phía Nam, được phép của ban tổ chức tôi xin trình bày về nhân vật mà chi hội chùng tôi mang tên : TRỊNH HOÀI ĐỨC DƯỚI GÓC NHÌN SỬ HỌC
          An toàn hầu Trịnh Hoài Đức còn có tên là An, tên chữ Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỷ XVIII. Quê gốc ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Ông cũng là một công thần của triều Nguyễn, đã giúp cho vua Gia Long rất nhiều về phương diện ngoại giao, chính trịkinh tế.
Trong lịch sử Việt Nam, xứ Đàng Trong hay Nam Bộ là một thế lực cát cứ nhỏ bé so với Đàng Ngoài đã vươn lên lớn mạnh, tiếp tục di dân khẩn hoang, mở mang lãnh thổ, can thiệp, thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp… Xứ Đàng Trong đã tiếp nhận những người Trung Hoa di cư đến làm ăn sinh sống, định cư lâu dài như vùng đất lành chim đậu. Trong nhiều hoạt động xã hội, chính trị của Đàng Trong, người Minh Hương đã tham gia ngay từ đầu tại vùng đất mới.
Quá trình lịch sử người Minh Hương di cư sinh sống đã làm phong phú thêm tiến trình lịch sử phát triển xứ Đàng Trong; được các chúa Nguyễn trọng dụng, được cư dân bản địa tiếp nhận và hỗ trợ. Các cộng đồng người Hoa lần lượt ra đời. Những cố gắng và cống hiến của người Hoa đã tạo cho họ có chỗ đứng vững chắc và vị trí khá quan trọng trong xã hội Việt Nam.
Đầu triều Thanh, ông nội Trịnh Hoài Đức là Trịnh Hội sang cư ngụ ở Việt Nam. Lúc đầu ở Phú Xuân, sau dời về thôn Bình Trúc thuộc dinh Trấn Biên (Biên Hoà). Nội tổ mẫu của Trịnh Hoài Đức là Vương Thị Nghi, tục gọi là bà Nghi, đều là người giàu có nhất ở xứ Đồng Nai.
          Ngoại tổ của Trịnh Hoài Đức là Lâm Tô Quan, người huyện Tấn Giang, phủ Triều Châu. Ông là một phú hào, khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương) có lệnh đổi y phục và mở lạc thiện, ông dâng vàng quyên giúp, được phong làm chức Nội viên thị hàm.
          Cha của Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh nổi tiếng ham học, giỏi về thư pháp và có tiếng là cao cờ. Trịnh Khánh kết duyên với cô gái Việt. Ông được chúa Nguyễn Phúc Khoát cho làm An Dương cai thủ, sau chuyển đến Qui Nhơn làm Chấp canh Tam trường cai đội.
          Trịnh Hoài Đức mồ côi cha từ khi 10 tuổi. Để tránh loạn lạc, mẹ ông từ Qui Nhơn dời nhà đến vùng Phiên Trấn lập nghiệp. Tại đây (nay là Hòa Hưng, quân 10, TP.HCM), Trịnh Hoài Đức được mẹ cho đến học tại trường thầy Võ Tường Toản, một nhà nho thuần hậu, đạo cao đức trọng nổi tiếng thời bấy giờ. Trịnh Hoài Đức chăm học, kết bạn với Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tĩnh. Cả ba người sau này nỗi tiếng phía Nam, được gọi là Gia Định Tam gia.
          Năm 1788, Nguyễn Ánh mở khoa thi ở Gia Định, cả ba ông ra ứng thí và đỗ đạt. Gần 40 năm ông làm quan cho triều đình Nguyễn, luôn thăng tiến.
Năm 1788, sau khi đậu khoa thi ở Gia Định, Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm và lần lượt giữ chức Hàn Lâm viện Chế cáo, Điền Tuấn sứ huyện Tân Bình. Sau lại được làm việc trong bộ Hình (tức bộ Tư pháp ).
Năm 1793, ông được giữ chức Thị giảng Đông cung (Hoàng tử Cảnh), theo Đông cung Cảnh trấn thành Diên Khánh (Khánh Hoà). Khi Đông Cung tiến ra lấy Phú Xuân, ông cũng theo ra dự bàn mọi việc quốc cơ mật.
Năm 1794 được thăng lên Tham tri hộ bộ (bộ Tài chính)
Vào năm 1802, Trịnh Hoài Đức được thăng Thượng thư Hộ bộ (bộ trưởng bộ Tài chính), làm chánh sứ cùng Ngô Nhơn Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đi sứ Trung Hoa.
Năm 1805, Trịnh Hoài Đức nhậm chức Hiệp lưu trấn Gia Định
Năm 1808 được phong là Hiệp tổng trấn.
Tháng 12 năm 1813, Trịnh Hoài Đức từ cương vị Thượng thư Lễ bộ (bộ Lễ nghi) được thăng làm Thượng thư Lại bộ (bộ Nhân sự)
Năm 1816, Trịnh Hoài Đức lại được giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định.
Khi Nguyễn Ánh mất, Minh Mạng lên thay vào năm 1820, Trịnh Hoài Đức được vua triệu về kinh phong làm Phó Tổng tài ở Quốc sử quán, rồi thăng Hiệp biện Đại học sĩ, trật Tòng nhất phẩm, lãnh Thượng thư Lại bộ, kiêm lãnh Thượng thư Binh bộ ( bộ Quốc phòng).
Trịnh Hoài Đức với kiến thức sâu rộng, đức độ khiến kẻ sĩ ngưỡng mộ được cử làm chủ khảo nhiều kỳ thi do triều đình mở.
Mùa thu năm 1824, Trịnh Hoài Đức được vua Minh Mạng sung chức Tổng tài biên sửa Nguyễn Triều Ngọc Điệp và Tôn Phả, rồi kiêm lãnh công việc nhà Thương bạc.
           Đến năm 1823, Trịnh Hoài Đức vì tuổi già, lâm bệnh, dâng biểu xin nghỉ việc.
          Con đường thăng tiến của Trịnh Hoài Đức một mặt thể hiện sự sủng ái của vua, tín nhiệm của triều đình Nguyễn đồng thời nói lên tài năng và nhân cách của ông trong thời bấy giờ.
          Mùa xuân năm 1825, sau một thời gian lâm bệnh, Trịnh Hoài Đức mất, thọ 61 tuổi tại Huế. Vua Minh Mạng bãi triều ba ngày, truy tặng ông chức Thiếu bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác. Linh cữu Trịnh Hoài Đức được đưa về Nam chôn cất nơi quê mẹ là làng Bình Trước, Biên Hoà theo nguyện vọng của ông.
          Dưới thời Nguyễn, mộ Trịnh Hoài Đức thuộc thôn Bình Trước, dinh Trấn Biên; hiện nay Lăng mộ Trịnh Hoài Đức nằm ở phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà; người dân địa phương trân trọng gọi là “lăng Ông”. Năm 1938 Trường Viễn Đông Bác cổ đã xếp mộ Trịnh Hoài Đức là di tích.
          Lăng mộ Trịnh Hoài Đức đã được Bộ Văn hoá – Thông tin – Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử theo Quyết định số 1539/QĐ, ngày 27 – 12 -1990.
Ông để lại cho đời sau nhiều thơ văn như Cấn Trai thi tập,gồm có ba tập nhỏ là: Thoái thực truy biên, Quan quang tập và Khả dĩ tập .Lịch đại kỷ nguyên. Khang tế lục : ghi cảm nghĩ sau chuyến đi sứ . Ông sưu tập bộMinh bột di ngư (con cá còn sót của bể Bột nhà Minh) của nhóm Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tứ làm nguyên soái, tập này có 320 chương, vịnh 10 cảnh danh tiếng của Hà Tiên, gọi là Hà Tiên thập vịnh. Trịnh Hoài Đức cũng để lại những bài thơ tại chùa Giác lâm, đình Gia Thịnh Minh Hương.
          Trịnh Hoài Đức là người giỏi văn chương, biết chính trị (do nhiều đời trong gia đình làm quan nhà Minh, nên nội tổ xin tị nạn tại nước ta). Các vua triều Nguyễn it dùng quan lại, những kẻ sĩ Bắc Hà, vì sợ còn tơ tưởng đến triều Lê và Nguyễn Huệ cho nên họ đã sử dụng lực lượng người Minh Hương để bảo vệ ngai vàng thời lập quốc. Người Minh Hương ở Đàng Trong chỉ muốn làm ăn, buôn bán, yên ổn. Sau 3 đời ở Đàng Trong, từ ông nội, cha, Trịnh Hoài Đức chưa về Trung Quốc nên ông có rất ít kỷ niệm về nguyên quán. Ông đã dùng hết tài năng để giúp triều đình Nguyễn – các vua Nguyễn đều trọng dụng ông – xây dựng và đóng góp vào văn hoá Việt. Tuy nhiên, có thể nhờ uy danh của ông mà nhóm người Minh Hương được buôn bán, đi lại tự do. Lịch sử Đàng Trong giai đoạn này, người Minh Hương nắm gần hết kinh tế, thương mãi và cả văn hoá: nhóm Hà Tiên thi xã, Bình Dương thi xã…
“Gia Định thành thông chí” được viết từ năm 1802-1812 lúc Trịnh Hoài Đức đang làm quan. Qua tác phẩm này, ông đã chứng tỏ là người có tình cảm sâu đậm với Việt Nam, phải có tấm lòng yêu vùng đất Nam Bộ đầy phù sa, nhiều vật lạ, những đoàn cư dân tứ xứ sống hài hòa với nhau…, và phải là người đầy đam mê, trí tuệ mới có thể sưu tầm, biên tập một tác phẩm địa chí lớn như thế, đầy đủ như thế.
Quyển sách này ghi chép rất công phu và tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, hành chính, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của dân cư tại vùng đất Gia Định từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất này từ năm 1698 cho đến những năm đầu thế kỷ 19. Gia Định hay Gia Định thành ban đầu vốn là tên gọi để dùng toàn bộ khu vực miền Nam Việt Nam. Cho nên bộ sách viết về cả miền Gia Định, hay Nam Bộ xưa. Nguyên bản (bản khắc gỗ) hiện nay không thấy, nhưng theo bản chép tay lưu tại thư viện Viện sử học Việt Nam (ký hiệu HV. 151 (1-6)) thì sách gồm toàn bộ sáu quyển, đóng làm 3 tập khổ 17x30cm, chữ hàng 8 (8 cột), mỗi hàng 21 chữ. Mỗi quyển viết về một phương diện khác nhau: Quyển I, Tinh dã chí, 6 tờ; Quyển II, Sơn xuyên chí, 90 tờ; Quyển III, Cương vực chí, 85 tờ; Quyển IV, Phong tục chí, 18 tờ; Quyển V, Vật sản chí, 25 tờ; Quyển VI, Thành trì chí, 45 tờ.
Một ít tóm luợc về cuộc đời và tác phẩm “Gia Định thành thông chí” của An toàn hầu Trịnh Hoài Đức. Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức đã có đề nghị hội Khoa học Lịch Sử Trung ương hoặc Hội Sử TP.HCM tổ chức hội thảo khoa học về Trịnh Hoài Đức./.

[1] Báo cáo tham luận trong Ngày Hội Sử học lần V, 31-07-2011
của HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
tổ chức tại Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, số 51 Quốc Hương P.Thảo Điền, Q. 2.TP.HCM