Chi Hội Khoa Học Lịch Sử Trịnh Hoài Đức > Tài liệu > Bài viết hội viên > Hai bức tượng đồng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Hai bức tượng đồng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là bảo tàng đầu ngành về mỹ thuật ở các tỉnh phía Nam. Hiện nay, bảo tàng đang lưu giữ, bảo quản và trưng bày nhiều bộ sưu tập có giá trị về mỹ thuật cổ và mỹ thuật đương đại. Một trong những bộ sưu tập đó là bộ sưu tập về “Tượng đồng mỹ nghệ đầu thế kỷ XX”. Đặc biệt, trong số đó có hai bức tượng có giá trị cao về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật. Đó là tượng Trương Vĩnh Ký và tượng Quách Đàm.

 

  1. Tượng Trương Vĩnh Ký:

 

  1. Vài nét về tiểu sử:

 

Trương Vĩnh Ký sinh ngày 6-12-1837, tự là Sĩ Tải, tên thánh Jean Baptiste Petrús, quê làng Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Sinh trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa, ông được các giáo sĩ người Pháp gửi đi học ở trường đạo Pinhalu (Campuchia) và từ 1851 tại chủng viện Dulaima (Pénang, Mã Lai). Tại đây, ông có dịp tiếp xúc với thầy giáo và học sinh thuộc nhiều nước khác nhau nên ông biết 15 ngôn ngữ phương Tây và 11 ngôn ngữ phương Đông [4,tr.343]. Như vậy, nếu tính thêm cả tiếng mẹ đẻ thì ông thông thạo 27 ngôn ngữ. Sau khi về nước, ông làm thông ngôn cho Pháp. Sau đó, ông dạy học và làm hiệu trưởng trường Thông ngôn tại Sài Gòn. Ngày 16-9-1869, ông làm chủ bút tờ Gia Định báo – tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Năm 1874, trong cuộc bầu chọn “Toàn cầu bác học danh gia” ông đã được xếp hạng thứ 17 trong “Thế giới Thập bát văn hào”. Nói đến Trương Vĩnh Ký thì không thể không nhắc đến những đóng góp của ông đối với văn hóa, ngôn ngữ cho nước nhà. Ông để lại nhiều công trình có giá trị về nhiều lĩnh vực như: Chuyện đời xưa (1867), Giáo trình về địa lý Nam Kỳ (1875), Sách vần quốc ngữ, Sử ký Nam Việt, Sử ký Trung Hoa (1876) và hơn 100 bản thảo khác. Ông mất ngày 1-9-1898, thọ 61 tuổi, an táng tại Chợ Quán. Hiện nay, lăng mộ của ông vẫn còn tại số 520 Trần Hưng Đạo, phường 2, quận 5.

 

  1. Việc dựng tượng:

 

Việc dựng tượng Trương Vĩnh Ký được khởi xướng bởi ông Trần Chánh Chiếu (Gilbert Chiếu) – là nhân vật trụ cột của phong trào Duy Tân và Đông Du ở Nam Kỳ. Ông kêu gọi đồng bào Nam Bộ cùng quyên góp tiền đúc tượng. Ý tưởng này đã được Chính phủ Nam Kỳ chấp thuận năm 1908. Theo Biên bản của Hội Đồng Thuộc địa ngày 6-12-1922 thì “quyết định đúc một tượng bán thân do nhà Durenne ở Paris thực hiện với giá khoảng 1500F” [3,tr.219]. Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, sáng kiến này đã không được thực hiện mà mãi đến 20 năm sau mới thấy ý tưởng trên được lấy lại và thực hiện. Ngày 18-12-1927 đã cử hành lễ khánh thành dựng tượng [3,tr.219]. Khác với ý tưởng ban đầu, tượng Trương Vĩnh Ký không phải là tượng bán thân mà là tượng toàn thân được dựng tại công viên trước dinh Norodom, nay là công viên 30 Tháng 4. Khu vực đặt tượng cùng với con đường cạnh đó là Alexandre de Rhodes (người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ) thì tượng Trương Vĩnh Ký (người tinh lọc và phát triển chữ Quốc ngữ) đã hợp thành cụm danh nhân có công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngôn ngữ Việt Nam hiện đại. Sau năm 1975, tượng được đưa về Bảo tàng Cách mạng Thành phố (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh), đến ngày 2-9-1992 tượng được chuyển giao về Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh bảo quản và trưng bày.

 

  1. Tượng Trương Vĩnh Ký:

 

Tượng được làm bằng đồng, tạo dáng đứng, cao 210cm. Tượng đúc liền với đế hình vuông. Khuôn mặt tượng được làm theo lối tả thực, mắt nhìn thẳng, đầu quấn khăn theo hình chữ “Nhân”, gương mặt toát lên vẻ nghiêm trang của một nhà giáo, nhà văn hóa; toàn thân tượng cho thấy tượng khoác bộ quốc phục của nam giới vào thời bấy giờ là áo dài khăn đóng với áo dài 5 thân, 5 nút cài bên phải, quần 2 ống [2,tr.30]. Trên áo hoàn toàn không có hoa văn, trên ngực áo có đeo 4 huy chương trong đó có huy chương Bắc đẩu bội tinh đệ ngũ đẳng mà ông được trao tặng vào năm 1886; ngoài ra còn có 2 chiếc ngọc khánh do triều đình nhà Nguyễn tặng: 1chiếc đeo ở mép áo, 1 chiếc có dây được mang trên cổ, trên chiếc ngọc khánh này có khắc chìm 4 chữ Hán song chữ đã mờ nên không còn đọc được. Tay trái hướng ra phía trước, trong tay có cầm 2 quyển sách; tay phải thả lỏng cặp theo thân; hai chân của tượng chống thẳng xuống, chân trái hơi bước lên trước, chân mang giày. Đế tượng hình vuông, phía trước có khắc chữ: Constant Roux (tên nghệ nhân tạo tượng), phía sau có khắc dòng chữ: Alexis Rudier Fondeur Paris (lò đúc đồng Alexis Rudier ở Paris).

 

Nếu so sánh tượng toàn thân của Trương Vĩnh Ký (từ phần ngực trở lên) với các tượng bán thân của cụ hiện còn bảo lưu tại 2 nơi là: Trường THPT Lê Hồng Phong (xưa là trường Petrús Ký) và tại giáo xứ Cái Mơn (Bến Tre) thì đều giống nhau và tất cả các tượng này lại giống với với bức hình chân dung của cụ Trương Vĩnh Ký mặc áo dài khăn đóng và đeo huy chương được công bố rộng rãi từ trước đó. Như vậy, các nghệ nhân xưa đã căn cứ vào bức hình chân dung này để đúc tượng. Điều đó cũng giải thích vì sao cả ba tượng đều có vị trí đeo các huy chương rất giống nhau. Như đã nói ở trên thì tượng cụ Trương Vĩnh Ký được khánh thành vào năm 1927, như vậy niên đại của bức tượng này là vào đầu thế kỷ XX. Hiện trạng của bức tượng là còn rất nguyên vẹn và được bảo quản tốt.

 

  1. Tượng Quách Đàm:

 

  1. Vài nét về tiểu sử:

 

Theo bia tiểu sử chữ Hán khắc ở bệ tượng (tại chợ Bình Tây) thì Quách Đàm sinh năm 1863, mất năm 1927, vốn người ở làng Long Khanh, huyện Triều An, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông đến Việt Nam từ thuở thiếu thời, ban đầu ông mua bán ve chai, sau buôn da trâu bò. Khi vốn đã khá, ông nhập khẩu đường cát và xuất khẩu lúa gạo. Đánh bại nhiều đối thủ, ông mua đứt nhà máy đường Hiệp Hòa của Pháp đang thua lỗ, nên được Chính phủ Pháp tặng Bắc đẩu bội tinh đệ ngũ đẳng [4,tr.315]. Ông lập nhà máy xay lúa Di Xương, mở hiệu buôn Thông Hiệp vang danh khắp Sài Gòn – Chợ Lớn nên có người còn gọi ông là ông Quách Thông Hiệp. Sinh thời, ông từng làm bang trưởng bang Triều Châu và đóng góp nhiều tiền của để trùng tu và mở rộng cơ sở tín ngưỡng của nhóm này là hội quán Nghĩa An. Khoảng năm 1920, biết tin chính quyền thành phố Chợ Lớn muốn xây dựng ngôi chợ mới thay cho ngôi chợ cũ (ở vị trí Bưu điện Chợ Lớn), Quách Đàm liền hiến ngay một khu đất ở thôn Bình Tây và xây tặng cho thành phố một ngôi chợ mới theo kiểu cổ Trung Hoa gọi là Chợ Lớn Mới (nay là chợ Bình Tây). Ông mất năm 1927, thọ 64 tuổi, mộ ông xưa ở gần chùa Giác Lâm (phường 10, quận Tân Bình), nay đã giải tỏa.

 

  1. Việc dựng tượng:

 

Sau khi ông mất, chính quyền thành phố đã cho dựng tượng ông ở vườn hoa giữa chợ để ghi nhận công lập chợ của ông. Cũng theo bia ở bệ tượng thì buổi lễ khánh thành tượng Quách Đàm diễn ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1930 với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ là Krautheimer, Đốc lý thành phố Chợ Lớn là Renault, phó Đốc lý thành phố Chợ Lớn là Cazano cùng vợ và các con của Quách Đàm. Sau năm 1975, tượng Quách Đàm được chuyển về kho của Phòng Văn hóa – Thông tin quận 6, sau đó chuyển giao về Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 14-5-2003 để bảo quản và trưng bày phục vụ khách tham quan.

 

  1. Tượng Quách Đàm:

 

Tượng cũng được đúc bằng đồng và tạo dáng đứng, cao 220cm. Tượng đúc liền với đế hình khối vuông. Khuôn mặt Quách Đàm cũng được thể hiện theo lối tả thực với mắt nhìn thẳng, đầu trần, gương mặt khắc họa rõ đây là một phú gia trung niên người Hoa. Tượng Quách Đàm được thể hiện đang mặc bộ lễ phục của người Hoa (lễ phục đời Thanh) với hai lớp áo. Một bộ “Xường xám huầy y” (trường sam ngoại y) của nam giới gồm một chiêc quần màu trắng và một chiếc áo dài may bằng lụa màu nhạt, cổ cao, áo vạt hò, cài nút qua bên phải; ngoài mặc một chiếc áo ngắn vừa sát thân mình may bằng gấm hoa màu sậm. Chiêc áo đó gọi là “huầy y” (ngoại y) cổ đứng thấp hơn, áo trong tay dài, cổ tay loe rộng, xẻ ngực và hàng nút thắt vải gài dọc trước ngực có năm nút, áo xẻ tà [5,tr.127]. Trên cả hai áo đều được khắc chìm họa tiết hoa lá nhưng được bố trí khác nhau. Đối với áo ngoài thì hoa lá được thể hiện thành từng chùm nằm rải rác trên áo; còn áo dài ở trong lại được thể hiện thành khóm, dày khít hơn so với áo ngoài. Tuy nhiên, tất cả đều có điểm chung là rất mềm mại và sống động cho ta cảm nhận đây là các hoa văn được dệt trực tiếp trên vải lụa. Phía trước áo ngoài, nghệ nhân đã thể hiện Quách Đàm đeo 10 huân, huy chương do người Pháp trao tặng, trong số đó có cả huy chương Bắc đẩu bội tinh tương tự như tượng Trương Vĩnh Ký. Tay trái của tượng cong vào người ôm hai cuộn giấy, tay phải hơi đưa ra phía trước, trong tay cầm một cuộn giấy được để xõa xuống. Phía mặt trước của cuộn giấy này có chạm chìm dòng chữ Pháp: “Écoles, marchés, oeuvres d’assistance” (tạm dịch là: Công việc vì sự giúp đỡ cho các trường học và các chợ), phía sau của cuộn giấy có dòng chữ: “Ville de ChoLon” (thành phố Chợ Lớn). Chân trái của tượng chống thẳng xuống, chân phải hơi nhấc lên cho ta thấy dường như tư thế của tượng đang bước lên phía trước. Hai chân đều mang giày theo kiểu giày vải của người Hoa.

 

Khác với tượng Trương Vĩnh Ký có ghi nghệ nhân và lò đúc tạo tác, tượng Quách Đàm không ghi bất cứ thông tin nào về tác giả nên hiện nay chúng ta chưa biết chính xác ai là người tạo tác ra bức tượng nay. Tuy nhiên, căn cứ vào bối cảnh lịch sử vào thời bấy giờ, phong cách tạo tượng theo kiểu cổ điển phương Tây và theo nhiều nhà nghiên cứu thì bức tượng có thể được chế tác ở Pháp rồi mới chuyển về Việt Nam. Tượng được khánh thành vào năm 1930, như vậy tượng cũng có niên đại vào đầu thế kỷ XX. Hiện trạng của pho tượng hiện nay còn nguyên vẹn, ngoại trừ phần đế giáp với chân trái tượng hơi lõm xuống.

 

  1. Nhận xét:

 

Hai bức tượng đồng của Trương Vĩnh Ký và Quách Đàm đều có niên đại vào đầu thế kỷ XX và cả hai đều là hiện vật mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và đặc biệt là giá trị về mỹ thuật.

 

Xét về tổng thể thì đây là hai bức tượng đẹp, tượng được làm theo lối cổ điển. Tuy được làm bằng đồng vốn là một chất liệu khô cứng nhưng qua bàn tay khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân đã biến những khối đồng thô kệch thành những tác phẩm rất nghệ thuật, họ đã thổi hồn vào những pho tượng khiến chúng rất có thần. Các nếp áo, hoa văn đều được làm rất mềm mại, đặc biệt là ở tượng Quách Đàm khiến ta có cảm nhận rằng các vạt áo, nếp áo cũng khẽ lay động theo gió và mỗi bước đi.

 

Xét về chi tiết thì tượng Trương Vĩnh Ký khá đơn giản, tượng Quách Đàm thì có nhiều chi tiết trang trí phức tạp hơn. Tuy nhiên, có một điểm chung là tất cả các chi tiết trang trí trên tượng như các huy chương, huân chương, ngọc khánh đều được thể hiện một cách tinh tế kể cả những hoa văn nhỏ nhất. Tất cả các huy chương, ngọc khánh đó đều có kích thước bằng với kích thước thật của hiện vật. Điều này làm cho hai pho tượng sống động hơn và cũng làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho chúng.

 

Mặc dù cả hai tượng đều do thợ Pháp thực hiện nhưng trang phục và các hoa văn lại rất Á Đông. Điều đó chứng tỏ các nghệ nhân đã có sự nghiên cứu cẩn thận về hoa văn cũng như trang phục truyền thống của người Việt và người Hoa trước khi đúc tượng. Do vậy, bộ quốc phục của người Việt (tượng Trương Vĩnh Ký) và lễ phục của người Hoa (tượng Quách Đàm) đều được thể hiện một cách chân thực và đầy thuyết phục.

 

Hai pho tượng trên là hai pho tượng cổ ít ỏi có kích thước lớn còn tồn tại đến nay và là đại diện hiếm hoi cho nghệ thuật đúc tượng và nền mỹ thuật cổ điển phương Tây từng hiện diện ở đất Sài Gòn vào đầu thế kỷ XX. Do đó chúng là những hiện vật quý giá góp phần làm phong phú thêm các bộ sưu tập hiện vật ở Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.

 

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Bản dịch chữ Hán bia tiểu sử Quách Đàm.
  2. Nguyễn Đình Tư, Bàn về quốc phục, Xưa & Nay số 253+254 II, 2006.
  3. Nguyễn Văn Trung, Vụ dựng tượng Trương Vĩnh Ký trong Thế kỷ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký, Tạp chí Xưa & Nay, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, 2006.
  4. Thạch Phương, Lê Trung Hoa chủ biên, Từ điển Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2008.
  5. Trương Ngọc Tường, Lý Lược Tam, Các tập tục sinh hoạt của người Hoa trong Người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2007.

 

Nguyễn Hữu Lộc