Quá Trình Hoạt Động

de3bbdc3-e95d-4fc9-8ddc-732165777f33
Vào năm 1998, trên địa bàn TPHCM có 3 chi hội Sử học trực thuộc Hội Khoa học Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Hội Sử Thành phố) Chi hội Xưa và Nay, gồm các vị là ủy viên Ban chấp hành Hội Sử Thành phố, đại diện Tạp chí Xưa và Nay và các nhà nghiên cứu không gắn với cơ quan, viện trường nào. Chi hội do TS. Phan Đình Nham là Ủy viên Thường vụ Hội Sử Thành phố trực tiếp chỉ đạo. Bấy giờ, TS. Phan Đình Nham là Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (viết tắt là Lưu trữ II) tại TP. HCM, tạo điều kiện thuận lợi (nơi họp) cho chi hội sinh hoạt.
Chi hội Trần Huy Liệu, gồm một số học viên lớp Cao học Khoa học Lịch sử khóa I (của Viện KHXH tại TP. HCM), các thành viên này công tác ở nhiều cơ quan hoặc đơn vị tư nhân trên địa bàn Thành phố. Chi hội do Cao học Hoàng Văn Lễ phụ trách, sinh hoạt gắn với Hội Sử Thành phố không thường kỳ, không có nơi sinh hoạt cố định.
Chi hội Lê Văn Hưu, gồm một số học viên lớp Cao học Khoa học Lịch sử khóa II (của Viện KHXH tại TP. HCM), các thành viên này gắn bó chặt chẽ và có nhiều hoạt động thiết thực, doCao học Lý Thị Mai, nguyên Lớp trưởng lớp Cao học II làm Chi hội trưởng. Điều kiện sinh hoạt như Chi hội Trần Huy Liệu nói trên, không có nơi hội họp…
Mỗi chi hội với số hội viên có hạn (xấp xỉ 5-10 thành viên mỗi lần họp), tổ chức sinh hoạt không được thường kỳ; trừ Chi hội Xưa và Nay, hai Chi hội còn lại không gắn với cơ quan nhà nước nào nên sinh hoạt có tính chất thân hữu hơn là một hội nghề nghiệp, chỉ có Chi hội trưởng gắn bó với Hội Sử Thành phố và truyền thông tin Hội đến các hội viên thân hữu của mình; quá trình hơn hai năm sinh hoạt, nổi bật nhất là việc một số thành viên được dự Đại hội Hội Sử Trung ương ở Hà Nội (Lý Thị Mai, Trương Dương, Hoàng Văn Lễ…) và viết bài tham gia các tập sách “Đất và Người Nam bộ” do Hội Sử Thành phố xuất bản thường kỳ (đến nay đã xuất bản được tập IX) .
TS. Phan Đình Nham, với trách nhiệm trong lãnh đạo Hội Sử Thành phố đã giúp hai chi hội Cao học I và II nơi sinh hoạt chính thức tại cơ quan Lưu trữ II. Sau đó, từ thực tế sinh hoạt mở (gồm những người học sử và ngưỡng mộ sử học) ba chi hội thống nhất làm một, chọn cơ quan Lưu trữ II làm nơi sinh hoạt. Chủ trương tự nguyện này được Ban Chấp hành Hội Sử Thành phố chấp thuận để hoạt động được hiệu quả hơn.
Ngày 22-8-1998, Đại hội hợp nhất ba Chi hội được triệu tập tại Trung Tâm Lưu trữ Quốc gia II, số 2 ter đường Lê Duẩn, quận I, TP. HCM. Hội nghị được sự tham dự và chỉ đạo của PGS. Huỳnh Lứa, Chủ tịch Hội Sử Thành phố, hơn 20 người họp mặt, có đủ đại diện ba chi hội và một số hội viên tích cực. Khi thảo luận về tên gọi của Chi hội mới, có ý kiến lấy tên Lê Văn Hưu, hoặc Ngô Sĩ Liên, là những sử gia nổi tiếng lâu đời, có ý kiến lấy tên sử gia Trần Huy Liệu thời cận đại cách mạng; thảo luận khá hào hứng và có sức thuyết phục, song khi thảo luận nhân vật lịch sử Trịnh Hoài Đức, nhiều đại biểu tán thành vì đây tuy là vị chức sắc triều Nguyễn nhưng có công lớn trong phát triển văn hóa Nam bộ, gắn bó với vùng đất này và với bộ sách “Gia Định Thành thông chí” Ông được vinh danh là nhà sử học đất Nam bộ. Do Chi hội hoạt động trên địa bàn TP. HCM, gần gũi với sử gia này hơn các sử gia khác; cuối cùng Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức được khai sinh, mở ra một sinh hoạt hội sử vừa chuyên ngành, có định hướng tìm hiểu và nghiên cứu sử học đất phương nam của Tổ quốc, vừa có tính mở mời các nhà sử học hoặc ngưỡng mộ sử học tham gia; với qui chế sinh hoạt ngày càng nền nếp.
Tại Đại hội hợp nhất này Ban Chấp hành được bầu gồm có 5 thành viên: TS. Phan Đình Nham (Chi hội trưởng), Lý Thị Mai (Chi hội phó), Trương Dương, Hoàng Văn Lễ, Nguyễn Đình Tư (ủy viên). Ban Chấp hành được Hội Sử TP. HCM ra Quyết định số 09/QĐ ngày 9-11-1998 công nhận.
Từ Chi hội Trịnh Hoài Đức phát triển thêm các Chi hội khác do một số hội viên của Chi hội tách ra là Chi hội Gia phả, Chi hội Trường Đại học Hồng Bàng, Chi hội quận Thủ Đức.
Năm 2003, sau khi Đại hội Hội Sử TP. HCM mở Đại hội bầu lại Ban Chấp hành khóa IV nhiệm kỳ 2002-2007, theo chủ trương chung, Chi hội Trịnh Hoài Đức họp ngày 15-12-2002 bầu Ban Chấp hành nhiệm kỳ 2002-2006, gồm có 5 thành viên như sau: TS. Phan Đình Nham (Chi hội trưởng), Cao học Lý Thị Mai (Chi hội phó), Cao học Trương Dương, NNC. Nguyễn Đình Tư (ủy viên), Cao học Huỳnh Kim Tuyến (thủ quỹ).
Bước qua nửa cuối năm 2003 và năm 2004, Chi hội duy trì sinh hoạt rất hạn hữu, cầm chừng. Sở dĩ có tình trạng này vì Chi hội trưởng và Chi hội phó bận việc cơ quan nên không có thời giờ bám sát công tác của Hội.
Được sự chấp thuận của Chủ tịch Hội Sử Thành phố, ngày 26-11-2004, Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư triệu tập cuộc họp bất thường Ban Chấp hành Chi hội Trịnh Hoài Đức tại nhà riêng của mình để bàn việc củng cố Chi hội và quyết định triệu tập toàn thể hội viên vào ngày 11-12-2004 tại Lưu Trữ II để bầu lại Ban Chấp hành Chi hội. Số giấy mời họp phát ra là 43; số hội viên đến dự họp là 19, số hội viên có “xin phép vắng mặt” là 5. Hội nghị bầu Ban Chấp hành mới gồm có 7 thành viên như sau: NNC. Nguyễn Đình Tư (Chi hội trưởng), Th.S. Nguyễn Xuân Hoài (Chi hội phó), Cao học Nguyễn Văn Quý (Thư ký), TS.KTS. Phạm Anh Dũng (phụ trách chuyên đề khoa học), Cao học Huỳnh Kim Tuyến (thủ quỹ), Cao học Trương Dương, Cao học Nguyễn Quế (phụ trách phát triển hội viên).
Trong phiên họp ngày 18-3-2007, theo đề nghị của Chi hội trưởng, toàn thể hội viên tán thành việc mời TS. Phan Đình Nham làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Chi hội.
Trong phiên họp ngày 22-6-2008, Ban Chấp hành Chi hội kiện toàn gồm các thành viên như sau:TS. Phan Đình Nham (Cố vấn), NNC. Nguyễn Đình Tư (Chi hội trưởng),  Th.S. Nguyễn Xuân Hoài (Chi hội phó), cao học Nguyễn Văn Quý (Thư ký), Cao học Trương Đình Bạch Hồng (Thủ quỹ & Phó thư ký), TS.KTS. Phạm Anh Dũng (Ủy viên phụ trách chuyên đề), ThS. Nguyễn Thị Hồng Cúc (Ủy viên phụ trách blog của chi hội), Cao học Trương Dương, Cao học Nguyễn Quế(Ủy viên phụ trách phát triển hội viên)
Trong phiên họp ngày 26-12-2010, tại địa chỉ mới của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, số 17 A đường Lê Duẩn, Cao họcNguyễn Văn Quý –  Thư ký Ban chấp hành Chi hội xin từ chức vì bận việc gia đình. Theo đề nghị của Chi hội trưởng, thành phần Ban Chấp hành Chi hội gồm có: TS. Phan Đình Nham (Cố vấn), NNC. Nguyễn Đình Tư (Chi hội trưởng), Th.S. Nguyễn Xuân Hoài(Chi hội phó), NNC. Đinh Hữu Chí (Ủy viên thường vụ & Thủ quỹ), Cao học Trương Đình Bạch Hồng (Thư ký), Cao học Lê Công Lý (Phó thư ký), TS.KTS. Phạm Anh Dũng (Ủy viên phụ trách chuyên đề), ThS. Nguyễn Thị Hồng Cúc (Ủy viên phụ trách phát triển hội viên), Cao học Trương Dương, Cao họcNguyễn Quế (Ủy viên phụ trách tham quan du khảo).
Trong phiên họp ngày 30-12-2012, NNC Nguyễn Đình Tư xin từ chức Chi hội trưởng do tuổi già, sức khỏe yếu kém vì đã qua tuổi 90 và đề nghị bầu Ban chấp hành mới, gồm có: NNC. Nguyễn Đình Tư (Cố vấn), TS. Phan Đình Nham (Chi hội trưởng), TS. Nguyễn Xuân Hoài (Chi hội phó), NNC. Đinh Hữu Chí (Chi hội phó thường trực & Thủ quỹ), Th.S. Trương Đình Bạch Hồng (Thư ký), Th.S. Lê Công Lý (Phó thư ký), TS.KTS. Phạm Anh Dũng (Ủy viên phụ trách chuyên đề), ThS. Nguyễn Thị Hồng Cúc (Ủy viên phụ trách phát triển hội viên), Trương Dương, Nguyễn Quế (Ủy viên phụ trách tham quan du khảo), LS. Lâm Thị Mai (Ủy viên phụ trách xã hội).
Tính đến cuối quý IV/2012 Chi hội có 36 hội viên, số hội viên luân chuyển của Chi hội trên 100 thành viên. Chi hội vinh dự có hội viên TS. Bùi Văn Toản được phong danh hiệu Anh Hùng Lao động thời kỳ đổi mới (11-2011) với các công trình nghiên cứu về nhà tù Côn Đảo. Có những hội viên ở xa cũng tham gia sinh hoạt với Chi hội như nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt (Hà Tiên), nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường (Cai Lậy), nhà nghiên cứu Phạm Duy Khương (Vũng Tàu), ông Đoàn Văn Thi (Vũng Tàu).
Các hoạt động nổi bật của Chi hội:
Một cố gắng được xem là ưu điểm quan trọng của Chi hội Trịnh Hoài Đức là giữ sinh hoạt đều đặn 3 tháng một lần vào buổi sáng Chủ nhật cuối quý (nhất là khi Nhà nghiên cứu cao niên Nguyễn Đình Tư làm Chi hội trưởng). Trong mỗi buổi sinh hoạt, ngoài việc thảo luận và giải quyết các việc nội bộ của Chi hội, còn có báo cáo chuyên đề liên quan đến Lịch sử và một số lãnh vực khác do hội viên đăng ký phát biểu, có sự đóng góp ý kiến của hội viên tham dự.
Nhiều hội viên có những công trình nghiên cứu riêng, viết thành sách xuất bản, tiêu biểu như: NNC. Nguyễn Đình Tư với Đường phố nội thành thành phố Hồ Chí Minh, Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ, Non nước Quảng Trị, Các nhà khoa bảng Nam Bộ, Địa chí Tiền Giang (2 tập), Từ điển địa chí Bạc Liêu, Địa chí Bình Dương, Địa chí quận 6,
TS. Bùi Văn Toản có các công trình nghiên cứu tập trung về nhà tù Côn Đảo: Ác liệt Côn Đảo, Xây dựng –  Nội san Lao 6B Côn Đảo (2 tập), Những tờ báo của tù nhân Côn Đảo, Côn Đảo – 6.694 ngày đêm, Vượt ngục Côn Đảo, Côn Đảo – bản anh hùng ca bất khuất, Lao 1 Côn Đảo – Truyền thống kiên trung bất khuất, Nhà tù Côn Đảo – Danh sách hy sinh và từ trần 1930 – 1975 (7 tập), Tù nhân Côn Đảo Tập 1.2.3 …
Nhiều hội viên có các bài báo trên các tạp chí: Xưa & Nay, Du lịch, Hồn Việt, Nghiên cứu và Phát triển, Nghiên cứu Lịch sử, Thông tin Khoa học Lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu, Di sản Văn hóa Bà Rịa – Vũng Tàu, Vô Ưu, Từ Quang… , trên nhiều tập sách “Nam bộ Đất và Người”, báo Sài Gòn Giải phóng thứ bảy …
Nhiều hội viên của Chi hội được mời tham dự Hội thảo khoa học chuyên ngành trên cả nước và ở các Hội Sử địa phương bạn, bài tham luận thường được đánh giá cao.
Hoạt động du khảo cũng là mặt mạnh của Chi hội:
Năm 2002, Chi hội tổ chức cho hội viên đi tham quan đền thờ cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Cao Lãnh, thăm thắng cảnh Hà Tiên, thăm lăng mộ và đền thờ họ Mạc, thăm lăng mộ và đền thờ danh nhân Thoại Ngọc Hầu và miếu thờ Bà Chúa Xứ ở Núi Sam Châu Đốc.
Ngày 4-8-2008, Chi hội tổ chức đoàn đại biểu đi Vĩnh Long với Tạp chí Xưa & Nay tham dự lễ tôn trí tượng đồng Đại học sĩ Phan Thanh Giản do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt hiến tặng và Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Long tổ chức tại Văn Thánh miếu. Chi hội có lẵng hoa đề “Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức TP. Hồ Chí Minh kính bái”. Nhân dịp này đoàn còn đi thăm đền thờ cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng ở quê hương của ông.
Ngày 13-7-2009 Chi hội tổ chức đi tham quan viện Bảo tàng tỉnh Đồng Nai, lăng mộ nhà Sử học Trịnh Hoài Đức, Văn Thánh miếu Trấn Biên, đình Tân Lân, nơi thờ danh tướng Trần Thượng Xuyên, đình Bình Kính, nơi thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và chùa cổ Đại Giác.
Gần đây, ngày 20-1-2013, Chi hội tổ chức tham quan Khu Di tích Căn cứ rừng Sác và Lăng ông Thủy tướng ở huyện Cần Giờ  TP. HCM bằng xe máy.
Chi hội đã tặng học bổng cho 6 sinh viên khoa Sử, học giỏi, có hoàn cảnh gia đình khó khăn của 3 trường Đại học và Cao đẳng có khoa Sử (Đại học Khoa học Xã hội vả Nhân văn, Đại học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm TP. HCM), mỗi trường 2 sinh viên, mỗi suất học bổng 500.000đ. Số tiền này do 2 hội viên của Chi hội ủng hộ là hội viên Đặng Văn Khoa –  Đại biểu HĐND Thành phố và hội viên Trương Minh Đạt ở Hà Tiên. Lễ trao học bổng được tổ chức trọng thể tại trụ sở Chi hội vào ngày 30-6-2002, có sự tham dự chứng kiến của Đại diện Ban Chấp hành Hội Sử Thành phố và đại diện của 3 trường nói trên. Đây là một công tác khuyến học rất hợp với tôn chỉ của Hội Khoa học lịch sử học Việt Nam mà đơn vị Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức là đơn vị đầu tiên của Hội, không những tại TP. HCM, mà cả trong toàn quốc, khởi xướng và thực hiện.
——————————————————————————————————————————————————————————–
Trên đây là sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Chi hội Sử học Trịnh Hoài Đức suốt 15 năm hoạt động. Một Chi hội của những người nghiên cứu và ngưỡng mộ sử học, luôn rộng mở chào đón hội viên mới, không gò bó nếu như không thể dự họp được, song sự ràng buộc “vắng” không họp ba lần liên tiếp coi như chia tay hoặc tạm chia tay với Chi hội chỉ là tương đối, được hội viên tôn trọng. Chi hội hàm ơn cơ quan Trung tâm Lưu trữ II, mà hai đời Giám đốc là TS. Phan Đình Nham và TS. Nguyễn Xuân Hoài (đương nhiệm) luôn tạo điều kiện để Chi hội làm nơi sinh hoạt và giao lưu với các đồng môn ngoài xã hội. Là hội viên của Chi hội, chúng tôi được sinh hoạt, được tiếp tục “học sử” và tham gia các hoạt động bổ ích khác. Hy vọng Chi hội Trịnh Hoài Đức tiếp tục duy trì sinh hoạt và mở rộng giao lưu, trong đó trang web này thêm một cầu nối hội viên với nhau và với đồng môn, độc giả khác.